iloveyouthatwhy04
24-10-2005, 10:24 PM
Chào các bạn!dưới đây là trích dẫn một phần trong cuốn sổ của nhà khoa học trẻ là thiếu úy,kỹ sư Hoàng Kim Giao!
Vốn thông minh, học giỏi, lại chịu khó, nên mới 26 tuổi, anh đã có hai bằng đại học, sử dụng thành thạo tiếng Trung Quốc và tiếng Nga... Nhưng chiến tranh đã cướp đi cuộc đời của nhà khoa học trẻ, khi mà bao khát vọng cống hiến của anh vẫn còn dang dở... Gần 30 năm sau, công trình nghiên cứu quốc phòng bí mật mà anh đã có những đóng góp tích cực về giải pháp khoa học công nghệ đã được Đảng và Nhà nước ta tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cao quý.
Nhà khoa học trẻ ấy là thiếu uý, kỹ sư Hoàng Kim Giao (1941-1968). Anh đã sống, chiến đấu như một người Cộng sản mẫu mực và hy sinh anh dũng ngoài mặt trận như một người anh hùng!
Gần 40 năm sau, cái chết oanh liệt của nhà khoa học trẻ đã được những người bạn cùng chiến đấu với anh làm sáng tỏ...
Cuốn sách mà bạn đọc đang có trong tay chỉ là tập hợp hơn 40 lá thư của người liệt sĩ mà thân nhân gia đình anh còn lưu giữ được. Âm hưởng chung trong những trang viết của Hoàng Kim Giao là sự yêu thương tha thiết cuộc sống, là tình cảm luyến ái trong sáng đến cao cả. Anh luôn sẵn sàng hiến dâng cuộc đời mình cho lý tưởng và cách mạng. ?Sống là để yêu thương và dâng hiến? ? tinh thần ấy đã xuyên suốt những trang thư của Hoàng Kim Giao. Dù cuộc chiến đấu có khó khăn, gian khổ và hiểm nguy tới mức nào, người chiến sĩ ấy cũng không nao núng, sẵn sàng chấp nhận cái chết, trong khi anh hoàn toàn có quyền lựa chọn hoặc từ chối.
Nhà khoa học trẻ Say mê công việc
nghiên cứu tới quên ăn quên ngủ
Hoàng Kim Giao sinh ngày 25-12-1941 (tuổi Tân Tỵ) tại Đồ Sơn - Hải Phòng, trong một gia đình trung lưu, có 8 anh em, Giao là con trai cả. Người cha của anh - ông Hoàng Văn Luận từng là Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Quân sự Hải Phòng trước khi chuyển ngành về làm Bí thư Đảng uỷ Nhà máy Cơ khí Duyên Hải. Ông cũng chính là người đã có sáng kiến phát động phong trào ?Sóng Duyên Hải?, để góp vào ?Gió Đại Phong - sóng Duyên Hải - cờ Ba Nhất - nổi tiếng một thời.
Trong kháng chiến chống Pháp, cậu bé Hoàng Kim Giao theo cha mẹ lên chiến khu Việt Bắc, rồi được gửi đi học tại trường thiếu sinh quân ở Quế Lâm - Trung Quốc trong 7 năm (1952 - 1959). Cậu vinh dự có tên trong danh sách 34 chiến sĩ thiếu sinh quân đầu tiên của Việt Nam, do chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký. (Theo truyền thống 34 chiến sĩ Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo Cao Bằng năm 1944).
Những năm 1961 - 1965, Hoàng Kim Giao được quân đội gửi vào học ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (chuyên ngành Vật lý hạt nhân), đồng thời là học viên Trường sĩ quan Kỹ thuật của quân đội... Thông minh, học giỏi, lại chịu khó, nên mới 26 tuổi, anh đã có hai bằng đại học. Sau khi được điều về công tác tại Cục nghiên cứu Kỹ thuật, thuộc Tổng cục Hậu cần - Bộ Quốc phòng (nay là Phân viện Điện tử Viễn thông, thuộc Viện Kỹ thuật Quân sự - Bộ Quốc phòng), Hoàng Kim Giao còn tranh thủ học thêm về chuyên ngành vô tuyến điện ở Đại học Bách khoa Hà Nội. Nhận rõ khả năng phát triển của người cán bộ trẻ, quân đội đang chuẩn bị cho anh đi nghiên cứu sinh tại Liên Xô... Cũng trong thời gian này, Hoàng Kim Giao tự học các ngoại ngữ Anh, Pháp và Tây Ban Nha... Anh quyết tâm nắm vững các ngoại ngữ này. Tủ sách riêng của anh có hàng ngàn quyển, chất đầy các loại từ điển và ngoại ngữ. (Sau ngày Hoàng Kim Giao hy sinh, số sách này đã được gia đình tặng lại cho đơn vị của anh).
Nhưng đó cũng là thời điểm không quân Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc nước ta. Hàng triệu tấn bom đạn đã trút xuống các tuyến giao thông huyết mạch trên đất liền và cả trên biển; trong đó có nhiều loại vũ khí hiện đại nhất hồi ấy như bom từ trường và thuỷ lôi từ tính nổ chậm, để ngăn chặn các phương tiện vận tải của ta phục vụ hậu cần cho kháng chiến... Điều đó đã khiến cho giao thông đường bộ, đường thuỷ của ta gặp không ít khó khăn và thiệt hại.
Một nhóm các kỹ sư của Cục Nghiên cứu Kỹ thuật trong đó có Hoàng Kim Giao, được giao nhiệm vụ nghiên cứu tìm giải pháp công nghệ cho công trình ?Phá thuỷ lôi từ tính và bom từ trường bảo đảm giao thông 1967 - 1972. Đây là một trong những công trình khoa học do Bộ Quốc phòng chủ trì, mang tính sống còn của ngành giao thông vận tải miền Bắc hồi đó, nên nó đã được tuyệt đối giữ bí mật. Mỗi nhóm nghiên cứu chỉ được biết riêng nhiệm vụ của mình. Tham gia đề tài khoa học này, có những người rất nổi tiếng như GS.TS Đàm Trung Đồn, TS. Trịnh Đông A...
Riêng với Hoàng Kim Giao, là một trong những người đầu tiên nghiên cứu về bom từ trường, anh đã say mê công việc nghiên cứu tới quên ăn, quên ngủ. Người nhà kể lại: Có lần, Giao được đơn vị cử về huyện Thuỷ Nguyên gần nhà để sửa chữa một dàn rađa bị trục trặc của một đơn vị tên lửa. Giấy công tác của đơn vị cho phép thời gian là 7 ngày, nhưng vốn thông minh lại chăm chỉ, nên chỉ 2 ngày anh đã xong nhiệm vụ. Lẽ ra, Giao có quyền được nghỉ ngơi tại nhà 5 ngày còn lại, nhưng anh chỉ rẽ qua nhà thăm bố mẹ và các em. "Nhiệm vụ chiến đấu rất khẩn trương, nhiều công việc đang chờ con, về đơn vị sớm giờ nào, đỡ cho đồng chí, đồng đội khó khăn giờ đó?" Anh nói vậy rồi vội vàng trở về đơn vị công tác ngay.
Trước ngày ra chiến trường, Giao được đơn vị cho nghỉ phép. Nhưng anh chưa hết đợt phép, thì Đài tiếng nói Việt Nam thông báo cơn bão số 7 sắp tràn về. Đó là cơn bão lớn của năm 1968 đã đổ bộ vào khu vực Hải Phòng - Hà Nội và các tỉnh lân cận. Lo ngại mưa lớn sẽ làm tắc đường, không lên được đơn vị đúng hẹn, Giao đã quyết định lấy xe đạp đi suốt đêm để trở về đơn vị. Cả gia đình ngăn sao cũng không được, người cha đành yêu cầu cậu em trai của Giao đạp xe cùng anh. Đêm ấy, họ đã gặp bão giữa đường. Mưa to, gió thổi mạnh, cả hai anh em đều ướt hết và ngã xe đạp nhiều lần.
Trong thư đề ngày 14-9-1968 gửi cho gia đình, anh viết: "Hôm ở nhà đi, con biết cậu mợ giận con nhiều, con cũng muốn ở lại nhà dù chỉ một vài giờ cũng thật là quý, thật ấm cúng. Nhưng con không muốn vì thế mà mọi người xung quanh nghĩ không đúng về con, về gia đình ta. Đến 9 giờ sáng hôm sau thì con tới đơn vị...". Và lần đó, vừa về tới đơn vị, Giao lại lao vào làm việc ngay để chống bão, suốt đêm lặn lội lái xe, thu xếp tài liệu không ngủ... Hậu quả của sự cố gắng quá sức đó là anh đã bị cảm, sốt mê man mấy ngày liền và ốm nửa tháng trời...
"Cần phải sống, nhưng không thể từ bỏ, hay trốn tránh những hy sinh cần thiết!?
Từ lý thuyết đến thực hành là cả vấn đề cực kỳ quan trọng, quyết định sự thành công của mỗi đề tài khoa học. Trong điều kiện chiến tranh còn nhiều thiếu thốn, cuối tháng 9-1968, mặc dù chưa hoàn toàn bình phục sau trận ốm vì gặp mưa bão, Hoàng Kim Giao vẫn xung phong dẫn một đoàn công tác đặc biệt trực tiếp vào chiến trường khu 4, để thực hành nghiên cứu cách tháo gỡ các loại bom từ trường mới nhất của địch vừa ném xuống chiến trường, thu chiến lợi phẩm về nghiên cứu; đồng thời, huấn luyện hướng dẫn cho bộ đội và thanh niên xung phong các đơn vị địa phương phá bom từ trường nổ chậm. Đoàn gồm 6 người, do thiếu uý Hoàng Kim Giao làm trưởng đoàn, và hạ sĩ Lưu Tuấn Kiệt (hiện là nhà thơ, sống và làm việc tại tỉnh Hưng Yên) làm phó đoàn. Ngoài ra còn có các chiến sĩ: Cư, Tước, Thái và Tín. Sau đó, ngoài đoàn công tác của Hoàng Kim Giao, còn có đoàn công tác khác của đồng chí Thái Quang Sa cũng lên đường vào Quân khu 4 và mặt trận 559 (đọc Những trang hồi ký về Viện Kỹ thuật Quân sự, xuất bản năm 1995, trang 179, 341?).
Từ Hà Nội, đoàn công tác đặc biệt của anh Giao được bố trí nhờ xe của một vị tướng đi đường tắt để vào miền Trung. Tới Tân Kỳ (Nghệ An), thì hết đường ô tô. Theo yêu cầu gấp rút của chiến trường, để cơ động nhanh và an toàn, đoàn công tác đã được Bộ Tư lệnh 500 "ưu tiên đặc cách" cấp tạm thời mỗi người một chiếc xe đạp "Vĩnh Cửu" của Trung Quốc - một phương tiện cá nhân rất quý hiếm hồi đó. Nhưng gay go nhất là phó đoàn Lưu Tuấn Kiệt lại không biết đi xe đạp! Anh em phải cấp tốc tập xe đạp cho Kiệt. Sau hơn một giờ, anh này ngồi lên đạp được, dù chưa vững, nhưng đoàn vẫn phải lên đường ngay. Những ngày đầu, Kiệt được ưu tiên đi xe không (không phải thồ hàng), vậy mà anh vẫn ngã lên ngã xuống, có lần còn đâm cả người và xe xuống hố bom đầy nước, làm cả bọc lương khô của đoàn bị ngâm nước. Anh em tiếc rẻ, phải động viên nhau ăn lương "khổ" trừ bữa.
Vừa hành quân, vừa phá bom từ trường theo yêu cầu của các đơn vị và nhân dân địa phương dọc đường đi, nên phải mất cả tháng trời, đoàn công tác đặc biệt mới vào tới Hà Tĩnh!
Hồi đó, khu 4 được mệnh danh là "tuyến lửa", với những "nút" giao thông quan trọng, đã tạo nên những trọng điểm đánh phá ác liệt nhất của không quân Mỹ. Những cái tên như: Đồng Lộc, Ô Dước, Truông Bồn, Khe Tang, Khe Ve... đã hằn sâu trong ký ức về bom đạn của những người đã đi qua đó trong chiến tranh dù chỉ một lần. Cả một vùng mênh mông đỏ ối màu đất mới và khói bụi. Không còn khoảng trống nào nguyên vẹn, đến cỏ cũng không kịp mọc, vậy mà con người vẫn phải bám trụ và chiến đấu.
Trong lá thư cuối cùng gửi về cho cha mẹ trước khi hy sinh, Hoàng Kim Giao viết có đoạn:
"Từ 29-9 con bắt đầu đi vào khu 4. Hiện giờ con đang ở Hà Tĩnh và sắp tới con sẽ đi vào Quảng Bình và sâu hơn chút nữa...
Cùng đi với con còn có 5 đồng chí chiến sĩ nữa. Đi để thu thập chiến lợi phẩm và phá bom nổ chậm. Một tháng qua con đã phải đi khá nhiều đường đất vất vả và cả đói nữa, nhưng cũng có nhiều điều đáng mừng. Con được đi tới những vùng ác liệt nhất của chiến trường khu 4. ở đây, có những quãng chỉ 2 km mà địch đã trút xuống 5.000 quả bom! ở đây, có những đội thanh niên xung phong cùng với mặt đường phải chịu từng ấy bom đạn và trong đội ngũ kiên cường đó những chiến sĩ phá bom là những người được yêu quý nhất. Có những lúc chúng con phải phá bom trên sông, trước mặt bao cảnh thương vong vì bom đạn giặc, con vẫn dẫn đầu anh em bơi lội trên sông, phá thông luồng lạch, tạo một niềm tin vững chắc cho các chiến sĩ giao thông.
Có những lúc chúng con phải phá bom mở đường ở các trọng điểm đánh phá trên bộ, dưới làn bom đạn dày đặc của máy bay giặc Mỹ. Bị sức ép nhiều lần, anh em thương vong gần hết, nhưng con của cậu mợ vẫn vững vàng tổ chức các đồng chí đảng viên gan dạ nhất phá sạch bom đạn giặc, cho xe thông đúng 12 giờ sau lệnh ngừng bắn. Anh em lái xe trên tuyến đường này đã dành cho chúng con những phần thưởng rất đáng quý.
Dù đứng giữa bãi bom của địch, hay dưới làn mưa đạn máy bay, con của cậu mợ vẫn vững vàng tiến lên phía trước. Cậu mợ ạ, ở đây chuyện sống chết đặt ra không phải từng ngày, mà từng giờ một. Có đồng chí vừa thăm con, nửa tiếng sau đã bị hy sinh. Có lúc con đã phải động viên sự hy sinh của từng người. Những lúc đó, như mọi người, con cũng nghĩ tới chuyện sống chết. Con nghĩ nếu con hy sinh thì trước mắt sẽ không hoàn thành nhiệm vụ, không đầy đủ trách nhiệm với các đồng chí cùng đi. Cậu mợ và các em con sẽ thương nhớ con nhiều. Sức khoẻ của cậu mợ cũng mau bị giảm sút. Tuy vậy không phải lúc nào con cũng được cân nhắc tới chuyện sống chết. Bởi con nghĩ rằng cần phải sống, nhưng không thể từ bỏ hay trốn tránh những hy sinh cần thiết! Và lúc đó con lại vững vàng tự tin đứng giữa bãi bom...
Lệnh ngừng bắn đã tạo cho chúng con thuận lợi lớn trong công tác, nhưng những hy sinh của các chiến sĩ phá bom vẫn còn tiếp tục. Mỗi khi đứng trước những quả bom nổ chậm, hay chờ tiếng bộc phá nổ, con thường nghĩ tới cậu mợ, tới các em ở xa...
Cậu mợ và các em có biết con sẽ thế nào không, nếu quả bom nổ?
Những lúc đứng giữa cảnh chết chóc hoang tàn đó, con nghĩ nhiều đến hạnh phúc gia đình, nghĩ tới ngày sum họp, nghĩ tới những ngày hoà bình và con luôn ước mơ ngày về gặp mặt cậu mợ và các em con. Con luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ để Tết có thể về nhà với gia đình, ngày ấy nhất định sẽ tới...".
Nhưng Hoàng Kim Giao đã không bao giờ trở về nữa. Đoàn công tác đặc biệt của anh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hướng dẫn cho các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong phá và tháo gỡ được hàng ngàn quả bom nguy hiểm. Riêng Hoàng Kim Giao cũng đã trực tiếp hàng trăm lần đối mặt với tử thần. Anh đã sử dụng các thiết bị kỹ thuật như xe chuyên dụng phóng từ, khung dây PK, và cả những phương pháp cổ điển thô sơ nhất? phá được 72 quả bom nổ chậm, trong đó có 40 quả bom từ trường. Nhưng định mệnh nghiệt ngã đã đến với nhà khoa học trẻ vào ngày cuối cùng của năm 1968. Anh hy sinh khi bao dự định, ước mơ về các công trình nghiên cứu khoa học còn dang dở...
Về "tuyến lửa" năm xưa
tìm nhân chứng và sự thật
Nhưng cái chết đầy bi tráng của nhà khoa học trẻ cho mãi tới 37 năm sau mới được chính các đồng đội của anh làm sáng tỏ.???
Đây là một đoạn thư của chị Nguyễn Thị Lan, vợ liệt sĩ Hoàng Kim Giao gửi cho bố mẹ chồng ngày 8-3-1969 (sau ngày anh Giao hy sinh hơn 2 tháng):
"Thưa cậu mợ, khi con vào đơn vị, đồng chí Khánh thủ trưởng của anh Giao đã kể chuyện cho con nghe tình hình công tác và gương hy sinh của anh Giao:
... Khi đoàn đến Hà Tĩnh, địch thả bom chặn đường giao thông, 500 chiếc xe bị ứ đọng. Vì am hiểu kỹ thuật, anh Giao đã lên trên mặt đường một mình để phá bom. Lúc đó địch đến ném bom tiếp, anh đã di chuyển từ hố bom này sang hố bom khác cách nhau 10 mét. Bị sức ép nhiều lần nhưng anh vẫn tiếp tục phá được nhiều bom, anh em trong đoàn và một số đơn vị bạn, các đơn vị thanh niên xung phong thấy tin tưởng vào kỹ thuật đã lên mặt đường cùng phá bom với anh Giao.
Lợi dụng đêm sáng trăng, anh Giao đã tổ chức cho anh em phá bom đến 3 giờ sáng và giải phóng được đoàn xe đi an toàn. Hôm sau được tin ngừng bắn, nhưng địch đã mang bom cố chặn đường giao thông của ta. Anh em trong đoàn rất hoang mang, có người tỏ ra rất bi quan. Anh Giao đã động viên anh em và lên đường phá bom một mình, mãi mới động viên được một đồng chí lên đường làm cùng với anh Giao. Do gương dũng cảm và thấy kết quả nên mọi người khác lại làm theo.
Có lần địch thả bom trên sông, anh Giao đã nhảy xuống sông để phá bom trước mọi người... Nhân dân địa phương và các đơn vị bạn đã học tập gương dũng cảm của anh từ khi còn sống"
Cũng lá thư trên, còn có đoạn nói về sự hy sinh của Hoàng Kim Giao như sau:
"Cuối tháng 12-1968, đoàn của anh Giao được lệnh của cấp trên gọi về ra Hà Nội báo cáo kết quả chuyến công tác. Ngày 30-12, đoàn tới địa phận xã Nam Hưng (Nam Đàn, Nghệ An), thấy Đảng bộ cùng nhân dân địa phương cần phá một số bom đang làm cản trở việc sản xuất, anh đã quyết định cho đoàn dừng lại...
Đã phá được nhiều bom, nhưng chưa lần nào ở Nam Hưng lại gặp một trường hợp khó như thế: Có một quả bom cắm dọc, nửa dưới đất, nửa trên mặt đường, dù đã 3 lần nhân dân địa phương dùng bộc phá để phá nhưng bom không nổ. Lần thứ tư, anh Giao phá theo phương pháp mới, bom vẫn không nổ.
Anh Giao đã quyết định phá quả bom này bằng phương pháp cổ truyền. Sau khi trực tiếp vào đào hố, làm lộ quả bom xong, anh ngồi bên cạnh quả bom và ra hiệu cho người lái xe mang bộc phá vào. Nhưng khi anh lái xe chỉ còn cách mục tiêu khoảng 2 mét thì quả bom bất ngờ phát nổ...
Anh Giao đã hy sinh ngay, còn anh lái xe sống thêm được 3 ngày nữa(!). Chi bộ, nhân dân địa phương và các đơn vị bạn đã mai táng cho các anh.
Trong đám tang anh Giao, tất cả mọi người đều khóc".
Cuối tháng 4-2005, chị Hoàng Liên Thái, em gái của liệt sĩ Hoàng Kim Giao đã tìm đến xã Nam Hưng. Chính quyền địa phương tiếp đón chị ân cần. Trực tiếp Chủ tịch xã Nguyễn Đình Hạnh và những cán bộ uỷ ban như O Mai, Phan Đình Sơn đều hết sức nhiệt tình tìm kiếm thông tin giúp chị Thái... Nhưng theo những người có tuổi nhớ lại thì năm 1968 ở Nam Hưng không có một trường hợp nào hy sinh giống như trong thư chị Lan đã kể, mà chỉ có hai anh bộ đội hy sinh cùng lúc. Địa phương đã đốt đuốc, mai táng cho các anh vào ban đêm... Có người còn bảo: Thời gian đã qua lâu, nên trí nhớ có thể sai, những địa danh khu 4 nhiều nơi phát âm gần giống nhau, người nơi xa đến có thể nghe không chính xác. Ngay ở huyện bên cạnh cũng có những xã mang tên Hưng như Nghĩa Hưng (huyện Nghĩa Đàn), thuộc nông trường Sông Hiếu cũ. Có thể anh Giao hy sinh ở nơi đó chăng?
Nhờ sự giúp đỡ của Viện Điện tử - Viễn thông Bộ Quốc phòng, gia đình liệt sĩ Hoàng Kim Giao đã tìm lại được 2 trong số 5 chiến sĩ trong đoàn công tác đặc biệt của đơn vị năm 1968. Đó là các anh Phạm Văn Cư và Lương Ngọc Tước. Những anh lính trẻ năm xưa ấy, giờ tóc đã bạc và đều có cháu nội, cháu ngoại...
Một ngày đầu tháng 7-2005, có hai người phụ nữ tìm về xã Thủ Sỹ, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, hỏi đường vào nhà thượng uý, cựu chiến binh Phạm Văn Cư. Ông Cư đi vắng, chỉ có người vợ ở nhà. Khi hai người khách lạ tự giới thiệu là Hoàng Thị Ngọc Kết và Hoàng Liên Thái - 2 em gái của liệt sĩ Hoàng Kim Giao... thì bà vợ ông Cư kêu lên mừng rỡ:
- Trời ơi, gần 40 mươi năm rồi, nay mới có người thân của bác Giao tìm về. Chúng em luôn coi bác ấy là ân nhân của gia đình. Không có bác ấy, thì em đã mất chồng, con cháu trong nhà cũng không được đề huề như ngày nay. Cả họ nhà em đội ơn bác Giao!...
Thì ra, gần 40 năm trước, khi từ chiến trường trở về, anh lính binh nhất Phạm Văn Cư đã kể hết với vợ con chuyện "bác Giao" đã chết thay cho mình như thế nào. Kể từ đó, vợ con anh đều coi "bác Giao" là ân nhân của gia đình. Ngày giỗ Tết đều thắp hương cho liệt sĩ Hoàng Kim Giao.
Giữa tháng 7-2005, người viết bài này đã có may mắn được tham gia cùng đoàn cựu chiến binh và thân nhân gia đình liệt sĩ tìm về "Tuyến lửa khu 4" năm xưa để xác minh lại địa điểm Hoàng Kim Giao đã hy sinh 37 năm trước.
Chúng tôi đã có buổi làm việc với lãnh đạo Viện Điện tử - Viễn Thông Bộ Quốc phòng, để lấy thông tin sơ bộ ban đầu, sau đó lên đường vào Nghệ An. Phải vất vả cả ngày đi một số xã của huyện Nghĩa Đàn, rồi sang tới huyện Nam Đàn, chúng tôi mới tìm được nhân chứng đầu tiên của địa phương: Ông Phan Đình Sơn, 80 tuổi, nguyên là Xã đội phó dân quân của xã Nam Hưng năm 1968.
Ông Sơn nhớ lại: Bí thư xã Nam Hưng hồi đó là ông Nguyễn Phùng Huy, còn Chủ tịch xã là ông Trần Xuân Hiền (cả 2 người nay đều đã mất). Ông Sơn cho biết: Năm đó, đúng là có mấy chú bộ đội về đây phá bom, không may bom nổ ở đồi Khe Diêm (gần hồ Khe Giấy), 2 chú đã hy sinh cùng lúc, dân quân phải đi nhặt xác, đốt đuốc chôn cất ban đêm...
Cùng với sự nhớ lại của các cựu binh Phạm Văn Cư, Lương Ngọc Tước và Đặng Sĩ Mốc (nguyên cán bộ của Viện Kỹ thuật Quân sự được cử từ Hà Nội vào Nam Hưng sau khi Hoàng Kim Giao hy sinh ít ngày, để làm thủ tục chính sách mai táng phí với địa phương; đưa chị Nguyễn Thị Lan vào thăm nơi chồng mình đã hy sinh), sự thật về cái chết bi hùng của nhà khoa học trẻ đã được làm sáng tỏ...
Đêm cuối cùng không ngủ
và tiếng nổ định mệnh?
Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tháo gỡ và phá bom từ trường tại Quảng Bình và Hà Tĩnh, đoàn công tác đặc biệt của Hoàng Kim Giao được lệnh đưa những chiến lợi phẩm đã thu được của địch (gồm "Cây nhiệt đới" và các loại đầu điều khiển nổ của bom từ trường mang ký hiệu MK42, đã được các chuyên gia vũ khí Mỹ cải tiến liên tục từ "modem 0" tới "modem 3") cùng khí tài trang bị trên xe chuyên dụng ra Hà Nội báo cáo kết quả. Ngày 29-12-1968, đoàn dừng chân xin nghỉ nhờ tại xã Nam Hưng (Nam Đàn, Nghệ An). Biết đây là đoàn chuyên gia phá bom từ trường trên đường về Hà Nội, địa phương đã đón tiếp rất nồng hậu. Đây cũng là thời điểm Mỹ vừa tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, chính quyền xã đã đề nghị đoàn giúp đỡ phá một số quả bom chưa nổ còn nằm lại địa phương, để bà con nhân dân yên tâm sản xuất. Hoàng Kim Giao đã nhận lời, động viên anh em trong đoàn, coi đó là một nhiệm vụ đột xuất...
Sau nhiều ngày phải ăn đồ dã chiến và lương khô, rồi ngủ ngồi trong xe, các chiến sĩ đã được ăn cơm nóng có rau xanh và ngủ nhờ trong nhà dân. Tối ấy, Hoàng Kim Giao cùng chiến sĩ Lương Ngọc Tước mắc võng chụm đầu bên cạnh xe đặc chủng.
Đã gần 40 năm trôi qua, nhưng anh Tước vẫn nhớ như in cái đêm cuối cùng ấy: Như có điềm lạ báo trước, anh Giao hầu như không ngủ, mà thức nói chuyện suốt đêm.
Cứ mỗi lúc thấy Tước im lặng, anh Giao lại hỏi:
- Mày ngủ rồi hả em? Ngủ gì mà sớm thế!
Dù rất mệt và hai mắt muốn nhím lại, nhưng Tước vẫn phải nói:
- Em chưa ngủ đâu! Anh cứ nói chuyện đi!
Hoàng Kim Giao đã nói rất nhiều chuyện: Về tình yêu, hạnh phúc gia đình, về những dự định cho tương lai khi đất nước hoà bình... Anh còn bảo:
- Hồi chiều, khi đi khảo sát địa hình chuẩn bị cho trận đánh ngày mai, anh đã phát hiện ra rất nhiều hài cốt bên cạnh một hố bom. (Có lẽ bom Mỹ đã thả trúng mấy ngôi mộ của các liệt sĩ thanh niên xung phong?) Không hiểu sao anh cứ thấy rờn rợn, bất an và linh cảm một điều gì đó không bình thường vào ngày mai..
Mãi gần sáng, Tước mới thiếp đi. Khi tỉnh dậy, đã thấy anh Giao đang chuẩn bị bộc phá và giây cháy chậm cho trận đánh.
Đã hàng trăm lần cùng nhau tháo gỡ bom từ trường, nhưng chưa lần nào anh Giao dặn dò đồngg đội lại tỷ mỉ và xúc động đến thế. Không ai bảo ai, nhưng tất cả đều hiểu rằng, mỗi lần vào trận đánh là mỗi lần họ phải trực tiếp đối mặt với tử thần, sự sống và cái chết chỉ trong tích tắc. Bởi loại bom từ trường này khi đã rời khỏi máy bay đều có chế độ tự huỷ. (Nếu không bị kích nổ bởi từ trường, thì chúng sẽ tự nổ không theo một quy luật nào). Và sự hy sinh của các chiến sĩ tháo bom cũng là điều dễ hiểu.
Đồng hồ chỉ đúng 7 giờ 30 phút, cả đoàn chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 3 người bắt đầu xuất phát. Họ chỉ mặc đồ lót, trên người không có một mảnh nhỏ kim loại. Đó là nguyên tắc sống còn khi tiếp xúc với vũ khí giết người này. Theo kế hoạch, 2 nhóm sẽ cùng vào trận để tháo ngòi nổ của 2 quả bom từ trường nằm cách nhau khoảng 700 mét.
Nhóm thứ nhất do anh Giao trực tiếp phụ trách có hai chiến sĩ là Phạm Văn Cư và Lương Văn Tín sẽ tháo ngòi nổ của một quả bom từ trường nằm trên sườn đồi Khe Diêm, sát quốc lộ 15. Quả bom cỡ lớn, chứa gần 300 kg thuốc nổ cực mạnh này, nằm xuyên sâu vào lòng đất, chỉ còn hở mỗi phần đuôi. Muốn tháo nó, các chiến sĩ phải sử dụng những gói bộc phá loại nhỏ, nặng chừng 2 lạng (nếu bộc phá lớn hơn, bom sẽ nổ theo), đánh bộc đất đá xung quanh. Đánh xong mỗi quả, lại phải dùng tay không để bới đất đá... cho tới khi nào lộ cái "phích" trung gian nối giữa đầu điều khiển và đầu nổ, rồi tháo "phích" để vô hiệu hóa chúng. Chỉ cần một sơ xuất rất nhỏ, cũng có thể làm cho bom phát nổ, hậu quả thật khôn lường...
Chuẩn bị đánh bộc phá, anh Giao nói với Cư:
- Hôm nay để anh trực tiếp thao tác, vì anh có kinh nghiệm, nên sẽ yên tâm hơn. Chú xuống cảnh giới cùng với thằng Tín đi!
Cư không chịu, bảo:
- Anh là kỹ sư, trưởng đoàn, còn em chỉ là chiến sĩ... Nếu cần phải hy sinh thì nên ?thí tốt?, chứ đừng ?bỏ xe?.
Anh Giao mắng át đi:
- Nói bậy nào! Tính mạng con người ai chả như nhau. Nhưng anh chưa có con cái vướng bận gì. Mà nghe nói vợ chú vừa đẻ con trai phải không? Chú xuống đi, để sau này cháu còn được nhìn mặt bố. Anh ra lệnh đó, không bàn cãi nữa, xuống mau!
Đợi cho Cư xuống tới vị trí an toàn. Anh Giao cho nổ bộc phá đầu tiên, rồi một mình hì hục bới đất xung quanh thân bom. 3 quả bộc phá đã đánh xong, bới hết đất mà cái phích trung gian vẫn chưa hiện ra. Tới khi anh Giao gọi mang quả bộc phá thứ 4 lên, thì Lương Văn Tín bảo với Cư:
- Em đã theo các anh đi đánh bom mấy tháng rồi, mà chưa được trực tiếp trận nào. Anh cho em mang bộc phá và dây cháy chậm lên cho anh Giao, rồi ngó xem ?mặt mũi thần chết? nó như thế nào, sau này hòa bình rồi, về quê còn có chuyện mà kể với bạn bè chứ!
Tín là lái xe của Bộ Tư lệnh 500 đi phối thuộc, (không thuộc quân số của Viện Kỹ thuật quân sự), nhập ngũ chưa lâu, mới qua tuổi 18, người cao to, trắng trẻo, rất đẹp trai, quê ở An Dục, Quỳnh Phụ, Thái Bình. Thấy Tín nằn nì mãi, nể quá nên Cư gật đầu đồng ý.
Cư hồi hộp nhìn theo cái dáng hớn hở của Tín cầm gói bộc phá lúi húi chạy lên sườn đồi, khuất sau mấy bụi sim mua, đoán chừng đã tới vị trí của quả bom... Bỗng, một chớp lửa nhoàng lên, rồi tiếng nổ rung đất, bầu trời như tối sầm bởi khói, bụi và đất đá rơi rào rào. Cư bị sức ép hất ngã, hai tai ù đặc. Anh bật dậy, vừa chạy ngược lên đồi, vừa gào trong nước mắt:
- Anh Giao ơi! Tín ơi!...
Trước mắt Cư, chỉ còn là một cái hố bom rộng và sâu hoắm...
"Thân xác các anh đã tan vào đất mẹ"
Tại tổ phá bom thứ hai, sau khi nghe một tiếng nổ lớn từ phía đồng đội, khói bụi chưa tan hết, lại nghe tiếp 4 tiếng súng nữa (báo hiệu tử vong), ba anh em: Tước, Kiệt và Thái vội bỏ dở công việc cùng chạy lại.
- Anh Giao và thằng Tín hy sinh cả rồi! Thấy Cư mặt mũi lem luốc, vừa khóc vừa nói, tất cả đều không cầm được nước mắt.
Buổi trưa hôm đó, theo đề nghị của 4 anh em còn lại trong đoàn công tác đặc biệt, chính quyền xã Nam Hưng đã cử khoảng 20 dân quân lên khu vực bom nổ, làm nhiệm vụ thu gom thi thể cho 2 liệt sĩ. Họ phải vạch từng bụi sim mua, nhẹ nhàng và tỉ mỉ lật từng cục đất mới... nhưng cố gắng hết mức cũng chỉ tìm lại được chừng một kilôgam thi thể... Không thể phân định được đâu là của Hoàng Kim Giao, đâu là của Lương Văn Tín, họ đành chia đều thành hai gói nhỏ, đặt vào 2 chiếc quan tài. Theo phong tục địa phương, để linh hồn hai anh có đủ xương cốt, hình hài cho siêu thoát, người ta đã đẽo 2 củ chuối thay đầu người và cho thêm vào quan tài những con cá nhỏ...
Đám tang của 2 liệt sĩ Hoàng Kim Giao và Lương Văn Tín được dân quân đốt đuốc, tổ chức vào lúc gần nửa đêm. 2 ngôi mộ cùng nằm trên một đồi cao lộng gió. Cả xã Nam Hưng đều rơi nước mắt. Hội mẹ chiến sĩ của xã đã cử một người chuyên chăm sóc mộ và hương khói cho các anh trong những ngày giỗ và Tết.
Gần 30 năm sau ngày nhà khoa học trẻ Hoàng Kim Giao hy sinh, công trình "Phá thuỷ lôi từ tính và bom từ trường, bảo đảm giao thông 1967 - 1972", đã được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996). Đây là giải thưởng cao quý nhất của Đảng và Nhà nước ta tặng cho các tập thể, cá nhân có công trình, hoặc cụm tác phẩm xuất sắc nhất; các công trình, cụm tác phẩm đó phải có ảnh hưởng to lớn, tích cực tới đời sống văn hóa xã hội, hoặc an ninh, quốc phòng... Hầu hết các tác giả vinh dự được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh đều là những người cao tuổi, những văn nghệ sĩ, trí thức lão thành... Và liệt sĩ Hoàng Kim Giao có lẽ là một trong những người trẻ tuổi nhất Việt Nam được vinh dự là đồng tác giả của công trình được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Ngày 23-12-2004, nghĩa là gần tròn 36 năm sau khi Hoàng Kim Giao hy sinh, khi đến thăm phòng truyền thống của Viện Kỹ thuật Quân sự - Bộ Quốc phòng, chị Hoàng Liên Thái cùng gia đình đã được đơn vị trao tặng một số bức ảnh của anh trai và một bức tranh sơn mài có dòng chữ:
"Viện kỹ thuật quân sự - Bộ quốc phòng tặng đồng chí Hoàng Kim Giao, vì đã có đóng góp giải pháp khoa học công nghệ vào công trình: "Phá thuỷ lôi từ tính và bom từ trường, bảo đảm giao thông 1967 - 1972", đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I".
Viết đến đây, tôi không thể không kể lại một câu chuyện thiêng liêng khó tin mà có thật với bạn đọc: Trong dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, chị Hoàng Liên Thái, giáo viên Trường cấp II Võ Thị Sáu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, em gái của liệt sĩ Hoàng Kim Giao, đã một mình từ Hải Phòng vào nghĩa trang Nam Đàn để thắp hương chung cho cả 2 ngôi mộ Hoàng Kim Giao và Lương Văn Tín. Chị đã đặt lên mộ anh trai mình cuốn sách "Những lá thư thời chiến Việt Nam" (tập I) có in 7 lá thư của liệt sĩ Hoàng Kim Giao. Khi còn sống, anh Giao là người rất chu đáo và tình cảm với cha mẹ và các em. Giao học giỏi văn, nên viết thư rất hay và viết khá nhiều thư. Hiện gia đình còn lưu giữ được rất nhiều thư anh để lại. Đã 40 mươi năm rồi, nhưng thư nào của anh được đọc lên cũng thấy thấm đẫm tình cảm đến muốn trào nước mắt.
Sau khi chị Thái thắp hương, khấn vái, bất chợt bó hương đang âm ỉ bỗng bùng lên ngọn lửa, dù lúc ấy nghĩa trang đang lặng gió. Chưa hết ngạc nhiên trước hiện tượng lạ ấy, thì chị lại thấy một cánh bướm màu nâu đậm, to bằng nửa bàn tay, từ đâu bay tới đậu lên vai chị. Dùng tay phất đuổi, cánh bướm vẫn không chịu bay đi, nó cứ lượn vòng quanh rồi đậu lên bia mộ... Vẫn biết có thể chỉ là sự trùng hợp tình cờ, mà chị vẫn rùng mình, ớn lạnh, cảm giác như có ai đó đang nhìn mình, ở ngay bên cạnh mình... Chưa hết, ngày hôm sau, khi đã về tới Hải Phòng, chị Thái lại kinh ngạc nhận ra con bướm nâu ở nghĩa trang Nam Đàn hôm trước đang có mặt trong nhà mình. Lạ hơn nữa là con bướm đang đậu trên tấm Huân chương của liệt sĩ Hoàng Kim Giao - tấm Huân chương lần đầu được treo lên sau 36 năm nằm trong ngăn tủ! Mọi người trong nhà rất mừng, nhưng 4 ngày sau, con bướm ấy đã nằm chết trên bàn thờ, dưới bức ảnh ông cụ thân sinh của người liệt sĩ. Chị Thái đã không kìm nổi những giọt nước mắt khi nhẹ nhàng nâng xác con bướm đã khô lên... Chị quyết định ép nó vào cuốn sổ tay và gửi cho chúng tôi bản chụp cánh bướm ấy Chi tiết này đã được tôi viết trong bài "Những chuyện thiêng liêng về những người đã hy sinh" in trên báo Văn nghệ Công an số tháng 7-2005.
Những ngày cuối tháng 7-2005, chúng tôi tìm về nghĩa trang Nam Đàn, người quản trang già đã quá quen với cảnh thân nhân gia đình liệt sĩ tới thắp hương, nhưng khi tôi vừa hỏi thăm mộ của Hoàng Kim Giao, ông sốt sắng nói ngay:
- Anh hùng phá bom từ trường hả? Ngôi mộ số 326 kia kìa! Anh ấy là người nổi tiếng ở nghĩa trang này mà!
Thì ra, dù chưa được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý đó, nhưng từ lâu, trong lòng đồng đội và nhân dân Nam Đàn, Hoàng Kim Giao đã là một anh hùng!
Sống để yêu thương và dâng hiến
Trong lời giới thiệu cho tập sách "Những lá thư thời chiến Việt Nam" (tập I) tôi đã viết: Thực ra, viết thư hay ghi nhật ký đều không phải là làm văn, mà trước hết đó chính là cuộc đời. Không có một người nào khi đặt bút viết những dòng chữ ấy lại nghĩ rằng, sau mấy chục năm nữa chúng sẽ được in thành sách và họ trở thành những tác giả... Bởi thế, tất cả đều chân thực và sinh động đến kỳ lạ. Và liệt sĩ Hoàng Kim Giao cũng vậy. Những trang thư của anh gửi cho người yêu, người vợ trẻ, cho em gái đi học đại học nước ngoài, hay cho cha mẹ... đều là những chuyện tình cảm rất riêng tư, vô cùng sinh động và chân thực.
Đọc lại những trang thư Hoàng Kim Giao đã viết cho những người thân yêu nhất của mình từ hơn 40 năm trước, chúng ta sẽ cảm nhận được điều đó. Chúng tôi xin được trích dẫn một vài đoạn trong số đó:
"Em yêu quý của anh! Anh mong gặp em ghê lắm. Anh muốn chúng ta dưới ánh trăng đẹp sẽ cùng nhau im lặng. Đi trong vườn hoa vắng, hoặc bơi thuyền dưới ánh trăng. Anh muốn lúc đó được nghe những lời yêu thương tha thiết của em. Anh muốn ghì chặt cô bạn xinh xắn của anh vào lòng và nói rằng suốt đời yêu em. Anh muốn mãi mãi được âu yếm, hôn mãi đôi môi xinh đẹp của em, em có cho phép anh không"
(Thư viết ngày 25/9/1964)
"...Nhìn thấy bất cứ cái gì anh cũng thấy hình bóng em lồng vào. Càng nghĩ càng yêu em tha thiết. Càng nghĩ anh càng thấy gắn bó hơn với em. Anh muốn gọi mãi tên em. Cái tên thân yêu đẹp hơn tất cả mọi cái trên đời, nó dịu dàng trong trẻo và làm ấm lòng anh. Anh luôn mơ ước có em bên cạnh, ôm ấp, trìu mến, yêu thương em....
...Anh mơ ước chúng ta được sống với nhau được yêu thương em mãi mãi, được ngồi ngắm em lúc em làm việc, nghỉ ngơi, vỗ về lúc em ngủ, nghĩ chuyện tương lai, được nghe em hát, nghe em kể chuyện nội trợ, thêu thùa vá may..."
(Thư viết ngày 9/1/1965)
"...Em đã mang lại hạnh phúc cho anh thì anh mong rằng hãy cho anh nốt hạnh phúc cuối cùng, đó là những vực thẳm mà em đã mơ hồ trông thấy, những nỗi buồn em chỉ khóc với trái tim em...
...Trong hàng vạn tấm lòng yêu thương, có lòng em ôm ấp hình bóng anh suốt tháng suốt năm. Em hãy tin với tất cả lòng tin để từng bước đi cạnh vực thẳm của cuộc đời, anh phải cẩn thận vì có em. Để trước quân thù anh dũng cảm được như những người dũng cảm nhất, anh hùng nhất vì biết rằng em và trong lòng vạn người vẫn coi anh như thế..."
(Thư viết ngày 27/3/1965)
"Chúng ta yêu nhau và tình yêu của chúng ta không phải vụng trộm, không phải né tránh những mũi tên xấu xa, cay độc của dư luận thông thường. Chúng ta được tự do hành động và chúng ta còn được tự do vì chúng ta biết sống thế nào đáng sống, biết yêu thế nào cho tình yêu vĩnh viễn trong như pha lê và ngào ngạt hoa lan buổi sớm"
(Thư viết ngày 15/05/1965)
"Anh chỉ có em để yêu thương thôi, cho nên anh mong em cho phép anh sống với em bằng tất cả tình thương, nỗi nhớ và cả trái tim dào dạt yêu thương của anh. Đối với anh, đầm ấm dịu ngọt nhất là được em ấp ủ yêu thương, được ngả vào cánh tay mát rượi của em để cho trí óc anh được thoải mái, nghỉ ngơi. Thực ra anh chỉ hoàn toàn thoải mái khi ở bên em, ôm em trong lòng và nghe tiếng đập của trái tim em. Em đừng hỏi anh sao không đi tìm hạnh phúc xa hơn như mọi thanh niên khác? Đối với anh em là tất cả, em đẹp hơn tất cả, dịu dàng thuỳ mị hơn tất cả và cũng tình cảm hơn tất cả mọi phụ nữ khác trên đời."
(Thư viết ngày 13/8/1966)
"Đừng buồn và đừng khóc em nhé. Lúc nào anh cũng ở bên em, anh mong rằng mỗi bước anh đi không bao giờ anh nghe thấy tiếng em khóc. Những giọt nước mắt yêu thương dành để cho lúc gặp nhau. Lúc đó, em sẽ muốn khóc bao nhiêu cũng được, vì bấy giờ em đã có anh rồi. Những giọt nước mắt đó không còn cô đơn nữa, nghe anh em nhé!"
(Thư viết ngày 14/9/1967)
Và trong tập sách này còn nhiều, rất nhiều những câu, những đoạn văn hay, thấm đẫm tình yêu và nước mắt như thế.
Hoàng Kim Giao không chỉ là một trí thức trẻ - một chiến sĩ trên mặt trận kỹ thuật mà trước hết anh là một Con Người theo đúng nghĩa viết hoa đẹp nhất của hai từ này. Ngoài những trang viết phơi phới lạc quan chiến thắng, đây đó ta còn bắt gặp cả những "nỗi buồn chiến tranh", những trang viết thấm đẫm nước mắt. Anh rất hiểu là mình có thể đón nhận những điều phũ phàng nhất do chiến tranh mang lại. Thậm chí, đã không ít lần anh nghĩ tới cái chết: "Cậu mợ và các em có biết con sẽ thế nào không nếu quả bom nổ". Nhưng đó là những tình cảm rất thật của con người. Trong mỗi người lính đều có những niềm vui, nỗi buồn và tình yêu không bao giờ vơi cạn. Điều quan trọng là họ vẫn tiếp tục chiến đấu cho tới ngày toàn thắng. Không ai có th&
Vốn thông minh, học giỏi, lại chịu khó, nên mới 26 tuổi, anh đã có hai bằng đại học, sử dụng thành thạo tiếng Trung Quốc và tiếng Nga... Nhưng chiến tranh đã cướp đi cuộc đời của nhà khoa học trẻ, khi mà bao khát vọng cống hiến của anh vẫn còn dang dở... Gần 30 năm sau, công trình nghiên cứu quốc phòng bí mật mà anh đã có những đóng góp tích cực về giải pháp khoa học công nghệ đã được Đảng và Nhà nước ta tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cao quý.
Nhà khoa học trẻ ấy là thiếu uý, kỹ sư Hoàng Kim Giao (1941-1968). Anh đã sống, chiến đấu như một người Cộng sản mẫu mực và hy sinh anh dũng ngoài mặt trận như một người anh hùng!
Gần 40 năm sau, cái chết oanh liệt của nhà khoa học trẻ đã được những người bạn cùng chiến đấu với anh làm sáng tỏ...
Cuốn sách mà bạn đọc đang có trong tay chỉ là tập hợp hơn 40 lá thư của người liệt sĩ mà thân nhân gia đình anh còn lưu giữ được. Âm hưởng chung trong những trang viết của Hoàng Kim Giao là sự yêu thương tha thiết cuộc sống, là tình cảm luyến ái trong sáng đến cao cả. Anh luôn sẵn sàng hiến dâng cuộc đời mình cho lý tưởng và cách mạng. ?Sống là để yêu thương và dâng hiến? ? tinh thần ấy đã xuyên suốt những trang thư của Hoàng Kim Giao. Dù cuộc chiến đấu có khó khăn, gian khổ và hiểm nguy tới mức nào, người chiến sĩ ấy cũng không nao núng, sẵn sàng chấp nhận cái chết, trong khi anh hoàn toàn có quyền lựa chọn hoặc từ chối.
Nhà khoa học trẻ Say mê công việc
nghiên cứu tới quên ăn quên ngủ
Hoàng Kim Giao sinh ngày 25-12-1941 (tuổi Tân Tỵ) tại Đồ Sơn - Hải Phòng, trong một gia đình trung lưu, có 8 anh em, Giao là con trai cả. Người cha của anh - ông Hoàng Văn Luận từng là Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Quân sự Hải Phòng trước khi chuyển ngành về làm Bí thư Đảng uỷ Nhà máy Cơ khí Duyên Hải. Ông cũng chính là người đã có sáng kiến phát động phong trào ?Sóng Duyên Hải?, để góp vào ?Gió Đại Phong - sóng Duyên Hải - cờ Ba Nhất - nổi tiếng một thời.
Trong kháng chiến chống Pháp, cậu bé Hoàng Kim Giao theo cha mẹ lên chiến khu Việt Bắc, rồi được gửi đi học tại trường thiếu sinh quân ở Quế Lâm - Trung Quốc trong 7 năm (1952 - 1959). Cậu vinh dự có tên trong danh sách 34 chiến sĩ thiếu sinh quân đầu tiên của Việt Nam, do chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký. (Theo truyền thống 34 chiến sĩ Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo Cao Bằng năm 1944).
Những năm 1961 - 1965, Hoàng Kim Giao được quân đội gửi vào học ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (chuyên ngành Vật lý hạt nhân), đồng thời là học viên Trường sĩ quan Kỹ thuật của quân đội... Thông minh, học giỏi, lại chịu khó, nên mới 26 tuổi, anh đã có hai bằng đại học. Sau khi được điều về công tác tại Cục nghiên cứu Kỹ thuật, thuộc Tổng cục Hậu cần - Bộ Quốc phòng (nay là Phân viện Điện tử Viễn thông, thuộc Viện Kỹ thuật Quân sự - Bộ Quốc phòng), Hoàng Kim Giao còn tranh thủ học thêm về chuyên ngành vô tuyến điện ở Đại học Bách khoa Hà Nội. Nhận rõ khả năng phát triển của người cán bộ trẻ, quân đội đang chuẩn bị cho anh đi nghiên cứu sinh tại Liên Xô... Cũng trong thời gian này, Hoàng Kim Giao tự học các ngoại ngữ Anh, Pháp và Tây Ban Nha... Anh quyết tâm nắm vững các ngoại ngữ này. Tủ sách riêng của anh có hàng ngàn quyển, chất đầy các loại từ điển và ngoại ngữ. (Sau ngày Hoàng Kim Giao hy sinh, số sách này đã được gia đình tặng lại cho đơn vị của anh).
Nhưng đó cũng là thời điểm không quân Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc nước ta. Hàng triệu tấn bom đạn đã trút xuống các tuyến giao thông huyết mạch trên đất liền và cả trên biển; trong đó có nhiều loại vũ khí hiện đại nhất hồi ấy như bom từ trường và thuỷ lôi từ tính nổ chậm, để ngăn chặn các phương tiện vận tải của ta phục vụ hậu cần cho kháng chiến... Điều đó đã khiến cho giao thông đường bộ, đường thuỷ của ta gặp không ít khó khăn và thiệt hại.
Một nhóm các kỹ sư của Cục Nghiên cứu Kỹ thuật trong đó có Hoàng Kim Giao, được giao nhiệm vụ nghiên cứu tìm giải pháp công nghệ cho công trình ?Phá thuỷ lôi từ tính và bom từ trường bảo đảm giao thông 1967 - 1972. Đây là một trong những công trình khoa học do Bộ Quốc phòng chủ trì, mang tính sống còn của ngành giao thông vận tải miền Bắc hồi đó, nên nó đã được tuyệt đối giữ bí mật. Mỗi nhóm nghiên cứu chỉ được biết riêng nhiệm vụ của mình. Tham gia đề tài khoa học này, có những người rất nổi tiếng như GS.TS Đàm Trung Đồn, TS. Trịnh Đông A...
Riêng với Hoàng Kim Giao, là một trong những người đầu tiên nghiên cứu về bom từ trường, anh đã say mê công việc nghiên cứu tới quên ăn, quên ngủ. Người nhà kể lại: Có lần, Giao được đơn vị cử về huyện Thuỷ Nguyên gần nhà để sửa chữa một dàn rađa bị trục trặc của một đơn vị tên lửa. Giấy công tác của đơn vị cho phép thời gian là 7 ngày, nhưng vốn thông minh lại chăm chỉ, nên chỉ 2 ngày anh đã xong nhiệm vụ. Lẽ ra, Giao có quyền được nghỉ ngơi tại nhà 5 ngày còn lại, nhưng anh chỉ rẽ qua nhà thăm bố mẹ và các em. "Nhiệm vụ chiến đấu rất khẩn trương, nhiều công việc đang chờ con, về đơn vị sớm giờ nào, đỡ cho đồng chí, đồng đội khó khăn giờ đó?" Anh nói vậy rồi vội vàng trở về đơn vị công tác ngay.
Trước ngày ra chiến trường, Giao được đơn vị cho nghỉ phép. Nhưng anh chưa hết đợt phép, thì Đài tiếng nói Việt Nam thông báo cơn bão số 7 sắp tràn về. Đó là cơn bão lớn của năm 1968 đã đổ bộ vào khu vực Hải Phòng - Hà Nội và các tỉnh lân cận. Lo ngại mưa lớn sẽ làm tắc đường, không lên được đơn vị đúng hẹn, Giao đã quyết định lấy xe đạp đi suốt đêm để trở về đơn vị. Cả gia đình ngăn sao cũng không được, người cha đành yêu cầu cậu em trai của Giao đạp xe cùng anh. Đêm ấy, họ đã gặp bão giữa đường. Mưa to, gió thổi mạnh, cả hai anh em đều ướt hết và ngã xe đạp nhiều lần.
Trong thư đề ngày 14-9-1968 gửi cho gia đình, anh viết: "Hôm ở nhà đi, con biết cậu mợ giận con nhiều, con cũng muốn ở lại nhà dù chỉ một vài giờ cũng thật là quý, thật ấm cúng. Nhưng con không muốn vì thế mà mọi người xung quanh nghĩ không đúng về con, về gia đình ta. Đến 9 giờ sáng hôm sau thì con tới đơn vị...". Và lần đó, vừa về tới đơn vị, Giao lại lao vào làm việc ngay để chống bão, suốt đêm lặn lội lái xe, thu xếp tài liệu không ngủ... Hậu quả của sự cố gắng quá sức đó là anh đã bị cảm, sốt mê man mấy ngày liền và ốm nửa tháng trời...
"Cần phải sống, nhưng không thể từ bỏ, hay trốn tránh những hy sinh cần thiết!?
Từ lý thuyết đến thực hành là cả vấn đề cực kỳ quan trọng, quyết định sự thành công của mỗi đề tài khoa học. Trong điều kiện chiến tranh còn nhiều thiếu thốn, cuối tháng 9-1968, mặc dù chưa hoàn toàn bình phục sau trận ốm vì gặp mưa bão, Hoàng Kim Giao vẫn xung phong dẫn một đoàn công tác đặc biệt trực tiếp vào chiến trường khu 4, để thực hành nghiên cứu cách tháo gỡ các loại bom từ trường mới nhất của địch vừa ném xuống chiến trường, thu chiến lợi phẩm về nghiên cứu; đồng thời, huấn luyện hướng dẫn cho bộ đội và thanh niên xung phong các đơn vị địa phương phá bom từ trường nổ chậm. Đoàn gồm 6 người, do thiếu uý Hoàng Kim Giao làm trưởng đoàn, và hạ sĩ Lưu Tuấn Kiệt (hiện là nhà thơ, sống và làm việc tại tỉnh Hưng Yên) làm phó đoàn. Ngoài ra còn có các chiến sĩ: Cư, Tước, Thái và Tín. Sau đó, ngoài đoàn công tác của Hoàng Kim Giao, còn có đoàn công tác khác của đồng chí Thái Quang Sa cũng lên đường vào Quân khu 4 và mặt trận 559 (đọc Những trang hồi ký về Viện Kỹ thuật Quân sự, xuất bản năm 1995, trang 179, 341?).
Từ Hà Nội, đoàn công tác đặc biệt của anh Giao được bố trí nhờ xe của một vị tướng đi đường tắt để vào miền Trung. Tới Tân Kỳ (Nghệ An), thì hết đường ô tô. Theo yêu cầu gấp rút của chiến trường, để cơ động nhanh và an toàn, đoàn công tác đã được Bộ Tư lệnh 500 "ưu tiên đặc cách" cấp tạm thời mỗi người một chiếc xe đạp "Vĩnh Cửu" của Trung Quốc - một phương tiện cá nhân rất quý hiếm hồi đó. Nhưng gay go nhất là phó đoàn Lưu Tuấn Kiệt lại không biết đi xe đạp! Anh em phải cấp tốc tập xe đạp cho Kiệt. Sau hơn một giờ, anh này ngồi lên đạp được, dù chưa vững, nhưng đoàn vẫn phải lên đường ngay. Những ngày đầu, Kiệt được ưu tiên đi xe không (không phải thồ hàng), vậy mà anh vẫn ngã lên ngã xuống, có lần còn đâm cả người và xe xuống hố bom đầy nước, làm cả bọc lương khô của đoàn bị ngâm nước. Anh em tiếc rẻ, phải động viên nhau ăn lương "khổ" trừ bữa.
Vừa hành quân, vừa phá bom từ trường theo yêu cầu của các đơn vị và nhân dân địa phương dọc đường đi, nên phải mất cả tháng trời, đoàn công tác đặc biệt mới vào tới Hà Tĩnh!
Hồi đó, khu 4 được mệnh danh là "tuyến lửa", với những "nút" giao thông quan trọng, đã tạo nên những trọng điểm đánh phá ác liệt nhất của không quân Mỹ. Những cái tên như: Đồng Lộc, Ô Dước, Truông Bồn, Khe Tang, Khe Ve... đã hằn sâu trong ký ức về bom đạn của những người đã đi qua đó trong chiến tranh dù chỉ một lần. Cả một vùng mênh mông đỏ ối màu đất mới và khói bụi. Không còn khoảng trống nào nguyên vẹn, đến cỏ cũng không kịp mọc, vậy mà con người vẫn phải bám trụ và chiến đấu.
Trong lá thư cuối cùng gửi về cho cha mẹ trước khi hy sinh, Hoàng Kim Giao viết có đoạn:
"Từ 29-9 con bắt đầu đi vào khu 4. Hiện giờ con đang ở Hà Tĩnh và sắp tới con sẽ đi vào Quảng Bình và sâu hơn chút nữa...
Cùng đi với con còn có 5 đồng chí chiến sĩ nữa. Đi để thu thập chiến lợi phẩm và phá bom nổ chậm. Một tháng qua con đã phải đi khá nhiều đường đất vất vả và cả đói nữa, nhưng cũng có nhiều điều đáng mừng. Con được đi tới những vùng ác liệt nhất của chiến trường khu 4. ở đây, có những quãng chỉ 2 km mà địch đã trút xuống 5.000 quả bom! ở đây, có những đội thanh niên xung phong cùng với mặt đường phải chịu từng ấy bom đạn và trong đội ngũ kiên cường đó những chiến sĩ phá bom là những người được yêu quý nhất. Có những lúc chúng con phải phá bom trên sông, trước mặt bao cảnh thương vong vì bom đạn giặc, con vẫn dẫn đầu anh em bơi lội trên sông, phá thông luồng lạch, tạo một niềm tin vững chắc cho các chiến sĩ giao thông.
Có những lúc chúng con phải phá bom mở đường ở các trọng điểm đánh phá trên bộ, dưới làn bom đạn dày đặc của máy bay giặc Mỹ. Bị sức ép nhiều lần, anh em thương vong gần hết, nhưng con của cậu mợ vẫn vững vàng tổ chức các đồng chí đảng viên gan dạ nhất phá sạch bom đạn giặc, cho xe thông đúng 12 giờ sau lệnh ngừng bắn. Anh em lái xe trên tuyến đường này đã dành cho chúng con những phần thưởng rất đáng quý.
Dù đứng giữa bãi bom của địch, hay dưới làn mưa đạn máy bay, con của cậu mợ vẫn vững vàng tiến lên phía trước. Cậu mợ ạ, ở đây chuyện sống chết đặt ra không phải từng ngày, mà từng giờ một. Có đồng chí vừa thăm con, nửa tiếng sau đã bị hy sinh. Có lúc con đã phải động viên sự hy sinh của từng người. Những lúc đó, như mọi người, con cũng nghĩ tới chuyện sống chết. Con nghĩ nếu con hy sinh thì trước mắt sẽ không hoàn thành nhiệm vụ, không đầy đủ trách nhiệm với các đồng chí cùng đi. Cậu mợ và các em con sẽ thương nhớ con nhiều. Sức khoẻ của cậu mợ cũng mau bị giảm sút. Tuy vậy không phải lúc nào con cũng được cân nhắc tới chuyện sống chết. Bởi con nghĩ rằng cần phải sống, nhưng không thể từ bỏ hay trốn tránh những hy sinh cần thiết! Và lúc đó con lại vững vàng tự tin đứng giữa bãi bom...
Lệnh ngừng bắn đã tạo cho chúng con thuận lợi lớn trong công tác, nhưng những hy sinh của các chiến sĩ phá bom vẫn còn tiếp tục. Mỗi khi đứng trước những quả bom nổ chậm, hay chờ tiếng bộc phá nổ, con thường nghĩ tới cậu mợ, tới các em ở xa...
Cậu mợ và các em có biết con sẽ thế nào không, nếu quả bom nổ?
Những lúc đứng giữa cảnh chết chóc hoang tàn đó, con nghĩ nhiều đến hạnh phúc gia đình, nghĩ tới ngày sum họp, nghĩ tới những ngày hoà bình và con luôn ước mơ ngày về gặp mặt cậu mợ và các em con. Con luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ để Tết có thể về nhà với gia đình, ngày ấy nhất định sẽ tới...".
Nhưng Hoàng Kim Giao đã không bao giờ trở về nữa. Đoàn công tác đặc biệt của anh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hướng dẫn cho các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong phá và tháo gỡ được hàng ngàn quả bom nguy hiểm. Riêng Hoàng Kim Giao cũng đã trực tiếp hàng trăm lần đối mặt với tử thần. Anh đã sử dụng các thiết bị kỹ thuật như xe chuyên dụng phóng từ, khung dây PK, và cả những phương pháp cổ điển thô sơ nhất? phá được 72 quả bom nổ chậm, trong đó có 40 quả bom từ trường. Nhưng định mệnh nghiệt ngã đã đến với nhà khoa học trẻ vào ngày cuối cùng của năm 1968. Anh hy sinh khi bao dự định, ước mơ về các công trình nghiên cứu khoa học còn dang dở...
Về "tuyến lửa" năm xưa
tìm nhân chứng và sự thật
Nhưng cái chết đầy bi tráng của nhà khoa học trẻ cho mãi tới 37 năm sau mới được chính các đồng đội của anh làm sáng tỏ.???
Đây là một đoạn thư của chị Nguyễn Thị Lan, vợ liệt sĩ Hoàng Kim Giao gửi cho bố mẹ chồng ngày 8-3-1969 (sau ngày anh Giao hy sinh hơn 2 tháng):
"Thưa cậu mợ, khi con vào đơn vị, đồng chí Khánh thủ trưởng của anh Giao đã kể chuyện cho con nghe tình hình công tác và gương hy sinh của anh Giao:
... Khi đoàn đến Hà Tĩnh, địch thả bom chặn đường giao thông, 500 chiếc xe bị ứ đọng. Vì am hiểu kỹ thuật, anh Giao đã lên trên mặt đường một mình để phá bom. Lúc đó địch đến ném bom tiếp, anh đã di chuyển từ hố bom này sang hố bom khác cách nhau 10 mét. Bị sức ép nhiều lần nhưng anh vẫn tiếp tục phá được nhiều bom, anh em trong đoàn và một số đơn vị bạn, các đơn vị thanh niên xung phong thấy tin tưởng vào kỹ thuật đã lên mặt đường cùng phá bom với anh Giao.
Lợi dụng đêm sáng trăng, anh Giao đã tổ chức cho anh em phá bom đến 3 giờ sáng và giải phóng được đoàn xe đi an toàn. Hôm sau được tin ngừng bắn, nhưng địch đã mang bom cố chặn đường giao thông của ta. Anh em trong đoàn rất hoang mang, có người tỏ ra rất bi quan. Anh Giao đã động viên anh em và lên đường phá bom một mình, mãi mới động viên được một đồng chí lên đường làm cùng với anh Giao. Do gương dũng cảm và thấy kết quả nên mọi người khác lại làm theo.
Có lần địch thả bom trên sông, anh Giao đã nhảy xuống sông để phá bom trước mọi người... Nhân dân địa phương và các đơn vị bạn đã học tập gương dũng cảm của anh từ khi còn sống"
Cũng lá thư trên, còn có đoạn nói về sự hy sinh của Hoàng Kim Giao như sau:
"Cuối tháng 12-1968, đoàn của anh Giao được lệnh của cấp trên gọi về ra Hà Nội báo cáo kết quả chuyến công tác. Ngày 30-12, đoàn tới địa phận xã Nam Hưng (Nam Đàn, Nghệ An), thấy Đảng bộ cùng nhân dân địa phương cần phá một số bom đang làm cản trở việc sản xuất, anh đã quyết định cho đoàn dừng lại...
Đã phá được nhiều bom, nhưng chưa lần nào ở Nam Hưng lại gặp một trường hợp khó như thế: Có một quả bom cắm dọc, nửa dưới đất, nửa trên mặt đường, dù đã 3 lần nhân dân địa phương dùng bộc phá để phá nhưng bom không nổ. Lần thứ tư, anh Giao phá theo phương pháp mới, bom vẫn không nổ.
Anh Giao đã quyết định phá quả bom này bằng phương pháp cổ truyền. Sau khi trực tiếp vào đào hố, làm lộ quả bom xong, anh ngồi bên cạnh quả bom và ra hiệu cho người lái xe mang bộc phá vào. Nhưng khi anh lái xe chỉ còn cách mục tiêu khoảng 2 mét thì quả bom bất ngờ phát nổ...
Anh Giao đã hy sinh ngay, còn anh lái xe sống thêm được 3 ngày nữa(!). Chi bộ, nhân dân địa phương và các đơn vị bạn đã mai táng cho các anh.
Trong đám tang anh Giao, tất cả mọi người đều khóc".
Cuối tháng 4-2005, chị Hoàng Liên Thái, em gái của liệt sĩ Hoàng Kim Giao đã tìm đến xã Nam Hưng. Chính quyền địa phương tiếp đón chị ân cần. Trực tiếp Chủ tịch xã Nguyễn Đình Hạnh và những cán bộ uỷ ban như O Mai, Phan Đình Sơn đều hết sức nhiệt tình tìm kiếm thông tin giúp chị Thái... Nhưng theo những người có tuổi nhớ lại thì năm 1968 ở Nam Hưng không có một trường hợp nào hy sinh giống như trong thư chị Lan đã kể, mà chỉ có hai anh bộ đội hy sinh cùng lúc. Địa phương đã đốt đuốc, mai táng cho các anh vào ban đêm... Có người còn bảo: Thời gian đã qua lâu, nên trí nhớ có thể sai, những địa danh khu 4 nhiều nơi phát âm gần giống nhau, người nơi xa đến có thể nghe không chính xác. Ngay ở huyện bên cạnh cũng có những xã mang tên Hưng như Nghĩa Hưng (huyện Nghĩa Đàn), thuộc nông trường Sông Hiếu cũ. Có thể anh Giao hy sinh ở nơi đó chăng?
Nhờ sự giúp đỡ của Viện Điện tử - Viễn thông Bộ Quốc phòng, gia đình liệt sĩ Hoàng Kim Giao đã tìm lại được 2 trong số 5 chiến sĩ trong đoàn công tác đặc biệt của đơn vị năm 1968. Đó là các anh Phạm Văn Cư và Lương Ngọc Tước. Những anh lính trẻ năm xưa ấy, giờ tóc đã bạc và đều có cháu nội, cháu ngoại...
Một ngày đầu tháng 7-2005, có hai người phụ nữ tìm về xã Thủ Sỹ, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, hỏi đường vào nhà thượng uý, cựu chiến binh Phạm Văn Cư. Ông Cư đi vắng, chỉ có người vợ ở nhà. Khi hai người khách lạ tự giới thiệu là Hoàng Thị Ngọc Kết và Hoàng Liên Thái - 2 em gái của liệt sĩ Hoàng Kim Giao... thì bà vợ ông Cư kêu lên mừng rỡ:
- Trời ơi, gần 40 mươi năm rồi, nay mới có người thân của bác Giao tìm về. Chúng em luôn coi bác ấy là ân nhân của gia đình. Không có bác ấy, thì em đã mất chồng, con cháu trong nhà cũng không được đề huề như ngày nay. Cả họ nhà em đội ơn bác Giao!...
Thì ra, gần 40 năm trước, khi từ chiến trường trở về, anh lính binh nhất Phạm Văn Cư đã kể hết với vợ con chuyện "bác Giao" đã chết thay cho mình như thế nào. Kể từ đó, vợ con anh đều coi "bác Giao" là ân nhân của gia đình. Ngày giỗ Tết đều thắp hương cho liệt sĩ Hoàng Kim Giao.
Giữa tháng 7-2005, người viết bài này đã có may mắn được tham gia cùng đoàn cựu chiến binh và thân nhân gia đình liệt sĩ tìm về "Tuyến lửa khu 4" năm xưa để xác minh lại địa điểm Hoàng Kim Giao đã hy sinh 37 năm trước.
Chúng tôi đã có buổi làm việc với lãnh đạo Viện Điện tử - Viễn Thông Bộ Quốc phòng, để lấy thông tin sơ bộ ban đầu, sau đó lên đường vào Nghệ An. Phải vất vả cả ngày đi một số xã của huyện Nghĩa Đàn, rồi sang tới huyện Nam Đàn, chúng tôi mới tìm được nhân chứng đầu tiên của địa phương: Ông Phan Đình Sơn, 80 tuổi, nguyên là Xã đội phó dân quân của xã Nam Hưng năm 1968.
Ông Sơn nhớ lại: Bí thư xã Nam Hưng hồi đó là ông Nguyễn Phùng Huy, còn Chủ tịch xã là ông Trần Xuân Hiền (cả 2 người nay đều đã mất). Ông Sơn cho biết: Năm đó, đúng là có mấy chú bộ đội về đây phá bom, không may bom nổ ở đồi Khe Diêm (gần hồ Khe Giấy), 2 chú đã hy sinh cùng lúc, dân quân phải đi nhặt xác, đốt đuốc chôn cất ban đêm...
Cùng với sự nhớ lại của các cựu binh Phạm Văn Cư, Lương Ngọc Tước và Đặng Sĩ Mốc (nguyên cán bộ của Viện Kỹ thuật Quân sự được cử từ Hà Nội vào Nam Hưng sau khi Hoàng Kim Giao hy sinh ít ngày, để làm thủ tục chính sách mai táng phí với địa phương; đưa chị Nguyễn Thị Lan vào thăm nơi chồng mình đã hy sinh), sự thật về cái chết bi hùng của nhà khoa học trẻ đã được làm sáng tỏ...
Đêm cuối cùng không ngủ
và tiếng nổ định mệnh?
Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tháo gỡ và phá bom từ trường tại Quảng Bình và Hà Tĩnh, đoàn công tác đặc biệt của Hoàng Kim Giao được lệnh đưa những chiến lợi phẩm đã thu được của địch (gồm "Cây nhiệt đới" và các loại đầu điều khiển nổ của bom từ trường mang ký hiệu MK42, đã được các chuyên gia vũ khí Mỹ cải tiến liên tục từ "modem 0" tới "modem 3") cùng khí tài trang bị trên xe chuyên dụng ra Hà Nội báo cáo kết quả. Ngày 29-12-1968, đoàn dừng chân xin nghỉ nhờ tại xã Nam Hưng (Nam Đàn, Nghệ An). Biết đây là đoàn chuyên gia phá bom từ trường trên đường về Hà Nội, địa phương đã đón tiếp rất nồng hậu. Đây cũng là thời điểm Mỹ vừa tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, chính quyền xã đã đề nghị đoàn giúp đỡ phá một số quả bom chưa nổ còn nằm lại địa phương, để bà con nhân dân yên tâm sản xuất. Hoàng Kim Giao đã nhận lời, động viên anh em trong đoàn, coi đó là một nhiệm vụ đột xuất...
Sau nhiều ngày phải ăn đồ dã chiến và lương khô, rồi ngủ ngồi trong xe, các chiến sĩ đã được ăn cơm nóng có rau xanh và ngủ nhờ trong nhà dân. Tối ấy, Hoàng Kim Giao cùng chiến sĩ Lương Ngọc Tước mắc võng chụm đầu bên cạnh xe đặc chủng.
Đã gần 40 năm trôi qua, nhưng anh Tước vẫn nhớ như in cái đêm cuối cùng ấy: Như có điềm lạ báo trước, anh Giao hầu như không ngủ, mà thức nói chuyện suốt đêm.
Cứ mỗi lúc thấy Tước im lặng, anh Giao lại hỏi:
- Mày ngủ rồi hả em? Ngủ gì mà sớm thế!
Dù rất mệt và hai mắt muốn nhím lại, nhưng Tước vẫn phải nói:
- Em chưa ngủ đâu! Anh cứ nói chuyện đi!
Hoàng Kim Giao đã nói rất nhiều chuyện: Về tình yêu, hạnh phúc gia đình, về những dự định cho tương lai khi đất nước hoà bình... Anh còn bảo:
- Hồi chiều, khi đi khảo sát địa hình chuẩn bị cho trận đánh ngày mai, anh đã phát hiện ra rất nhiều hài cốt bên cạnh một hố bom. (Có lẽ bom Mỹ đã thả trúng mấy ngôi mộ của các liệt sĩ thanh niên xung phong?) Không hiểu sao anh cứ thấy rờn rợn, bất an và linh cảm một điều gì đó không bình thường vào ngày mai..
Mãi gần sáng, Tước mới thiếp đi. Khi tỉnh dậy, đã thấy anh Giao đang chuẩn bị bộc phá và giây cháy chậm cho trận đánh.
Đã hàng trăm lần cùng nhau tháo gỡ bom từ trường, nhưng chưa lần nào anh Giao dặn dò đồngg đội lại tỷ mỉ và xúc động đến thế. Không ai bảo ai, nhưng tất cả đều hiểu rằng, mỗi lần vào trận đánh là mỗi lần họ phải trực tiếp đối mặt với tử thần, sự sống và cái chết chỉ trong tích tắc. Bởi loại bom từ trường này khi đã rời khỏi máy bay đều có chế độ tự huỷ. (Nếu không bị kích nổ bởi từ trường, thì chúng sẽ tự nổ không theo một quy luật nào). Và sự hy sinh của các chiến sĩ tháo bom cũng là điều dễ hiểu.
Đồng hồ chỉ đúng 7 giờ 30 phút, cả đoàn chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 3 người bắt đầu xuất phát. Họ chỉ mặc đồ lót, trên người không có một mảnh nhỏ kim loại. Đó là nguyên tắc sống còn khi tiếp xúc với vũ khí giết người này. Theo kế hoạch, 2 nhóm sẽ cùng vào trận để tháo ngòi nổ của 2 quả bom từ trường nằm cách nhau khoảng 700 mét.
Nhóm thứ nhất do anh Giao trực tiếp phụ trách có hai chiến sĩ là Phạm Văn Cư và Lương Văn Tín sẽ tháo ngòi nổ của một quả bom từ trường nằm trên sườn đồi Khe Diêm, sát quốc lộ 15. Quả bom cỡ lớn, chứa gần 300 kg thuốc nổ cực mạnh này, nằm xuyên sâu vào lòng đất, chỉ còn hở mỗi phần đuôi. Muốn tháo nó, các chiến sĩ phải sử dụng những gói bộc phá loại nhỏ, nặng chừng 2 lạng (nếu bộc phá lớn hơn, bom sẽ nổ theo), đánh bộc đất đá xung quanh. Đánh xong mỗi quả, lại phải dùng tay không để bới đất đá... cho tới khi nào lộ cái "phích" trung gian nối giữa đầu điều khiển và đầu nổ, rồi tháo "phích" để vô hiệu hóa chúng. Chỉ cần một sơ xuất rất nhỏ, cũng có thể làm cho bom phát nổ, hậu quả thật khôn lường...
Chuẩn bị đánh bộc phá, anh Giao nói với Cư:
- Hôm nay để anh trực tiếp thao tác, vì anh có kinh nghiệm, nên sẽ yên tâm hơn. Chú xuống cảnh giới cùng với thằng Tín đi!
Cư không chịu, bảo:
- Anh là kỹ sư, trưởng đoàn, còn em chỉ là chiến sĩ... Nếu cần phải hy sinh thì nên ?thí tốt?, chứ đừng ?bỏ xe?.
Anh Giao mắng át đi:
- Nói bậy nào! Tính mạng con người ai chả như nhau. Nhưng anh chưa có con cái vướng bận gì. Mà nghe nói vợ chú vừa đẻ con trai phải không? Chú xuống đi, để sau này cháu còn được nhìn mặt bố. Anh ra lệnh đó, không bàn cãi nữa, xuống mau!
Đợi cho Cư xuống tới vị trí an toàn. Anh Giao cho nổ bộc phá đầu tiên, rồi một mình hì hục bới đất xung quanh thân bom. 3 quả bộc phá đã đánh xong, bới hết đất mà cái phích trung gian vẫn chưa hiện ra. Tới khi anh Giao gọi mang quả bộc phá thứ 4 lên, thì Lương Văn Tín bảo với Cư:
- Em đã theo các anh đi đánh bom mấy tháng rồi, mà chưa được trực tiếp trận nào. Anh cho em mang bộc phá và dây cháy chậm lên cho anh Giao, rồi ngó xem ?mặt mũi thần chết? nó như thế nào, sau này hòa bình rồi, về quê còn có chuyện mà kể với bạn bè chứ!
Tín là lái xe của Bộ Tư lệnh 500 đi phối thuộc, (không thuộc quân số của Viện Kỹ thuật quân sự), nhập ngũ chưa lâu, mới qua tuổi 18, người cao to, trắng trẻo, rất đẹp trai, quê ở An Dục, Quỳnh Phụ, Thái Bình. Thấy Tín nằn nì mãi, nể quá nên Cư gật đầu đồng ý.
Cư hồi hộp nhìn theo cái dáng hớn hở của Tín cầm gói bộc phá lúi húi chạy lên sườn đồi, khuất sau mấy bụi sim mua, đoán chừng đã tới vị trí của quả bom... Bỗng, một chớp lửa nhoàng lên, rồi tiếng nổ rung đất, bầu trời như tối sầm bởi khói, bụi và đất đá rơi rào rào. Cư bị sức ép hất ngã, hai tai ù đặc. Anh bật dậy, vừa chạy ngược lên đồi, vừa gào trong nước mắt:
- Anh Giao ơi! Tín ơi!...
Trước mắt Cư, chỉ còn là một cái hố bom rộng và sâu hoắm...
"Thân xác các anh đã tan vào đất mẹ"
Tại tổ phá bom thứ hai, sau khi nghe một tiếng nổ lớn từ phía đồng đội, khói bụi chưa tan hết, lại nghe tiếp 4 tiếng súng nữa (báo hiệu tử vong), ba anh em: Tước, Kiệt và Thái vội bỏ dở công việc cùng chạy lại.
- Anh Giao và thằng Tín hy sinh cả rồi! Thấy Cư mặt mũi lem luốc, vừa khóc vừa nói, tất cả đều không cầm được nước mắt.
Buổi trưa hôm đó, theo đề nghị của 4 anh em còn lại trong đoàn công tác đặc biệt, chính quyền xã Nam Hưng đã cử khoảng 20 dân quân lên khu vực bom nổ, làm nhiệm vụ thu gom thi thể cho 2 liệt sĩ. Họ phải vạch từng bụi sim mua, nhẹ nhàng và tỉ mỉ lật từng cục đất mới... nhưng cố gắng hết mức cũng chỉ tìm lại được chừng một kilôgam thi thể... Không thể phân định được đâu là của Hoàng Kim Giao, đâu là của Lương Văn Tín, họ đành chia đều thành hai gói nhỏ, đặt vào 2 chiếc quan tài. Theo phong tục địa phương, để linh hồn hai anh có đủ xương cốt, hình hài cho siêu thoát, người ta đã đẽo 2 củ chuối thay đầu người và cho thêm vào quan tài những con cá nhỏ...
Đám tang của 2 liệt sĩ Hoàng Kim Giao và Lương Văn Tín được dân quân đốt đuốc, tổ chức vào lúc gần nửa đêm. 2 ngôi mộ cùng nằm trên một đồi cao lộng gió. Cả xã Nam Hưng đều rơi nước mắt. Hội mẹ chiến sĩ của xã đã cử một người chuyên chăm sóc mộ và hương khói cho các anh trong những ngày giỗ và Tết.
Gần 30 năm sau ngày nhà khoa học trẻ Hoàng Kim Giao hy sinh, công trình "Phá thuỷ lôi từ tính và bom từ trường, bảo đảm giao thông 1967 - 1972", đã được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996). Đây là giải thưởng cao quý nhất của Đảng và Nhà nước ta tặng cho các tập thể, cá nhân có công trình, hoặc cụm tác phẩm xuất sắc nhất; các công trình, cụm tác phẩm đó phải có ảnh hưởng to lớn, tích cực tới đời sống văn hóa xã hội, hoặc an ninh, quốc phòng... Hầu hết các tác giả vinh dự được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh đều là những người cao tuổi, những văn nghệ sĩ, trí thức lão thành... Và liệt sĩ Hoàng Kim Giao có lẽ là một trong những người trẻ tuổi nhất Việt Nam được vinh dự là đồng tác giả của công trình được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Ngày 23-12-2004, nghĩa là gần tròn 36 năm sau khi Hoàng Kim Giao hy sinh, khi đến thăm phòng truyền thống của Viện Kỹ thuật Quân sự - Bộ Quốc phòng, chị Hoàng Liên Thái cùng gia đình đã được đơn vị trao tặng một số bức ảnh của anh trai và một bức tranh sơn mài có dòng chữ:
"Viện kỹ thuật quân sự - Bộ quốc phòng tặng đồng chí Hoàng Kim Giao, vì đã có đóng góp giải pháp khoa học công nghệ vào công trình: "Phá thuỷ lôi từ tính và bom từ trường, bảo đảm giao thông 1967 - 1972", đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I".
Viết đến đây, tôi không thể không kể lại một câu chuyện thiêng liêng khó tin mà có thật với bạn đọc: Trong dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, chị Hoàng Liên Thái, giáo viên Trường cấp II Võ Thị Sáu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, em gái của liệt sĩ Hoàng Kim Giao, đã một mình từ Hải Phòng vào nghĩa trang Nam Đàn để thắp hương chung cho cả 2 ngôi mộ Hoàng Kim Giao và Lương Văn Tín. Chị đã đặt lên mộ anh trai mình cuốn sách "Những lá thư thời chiến Việt Nam" (tập I) có in 7 lá thư của liệt sĩ Hoàng Kim Giao. Khi còn sống, anh Giao là người rất chu đáo và tình cảm với cha mẹ và các em. Giao học giỏi văn, nên viết thư rất hay và viết khá nhiều thư. Hiện gia đình còn lưu giữ được rất nhiều thư anh để lại. Đã 40 mươi năm rồi, nhưng thư nào của anh được đọc lên cũng thấy thấm đẫm tình cảm đến muốn trào nước mắt.
Sau khi chị Thái thắp hương, khấn vái, bất chợt bó hương đang âm ỉ bỗng bùng lên ngọn lửa, dù lúc ấy nghĩa trang đang lặng gió. Chưa hết ngạc nhiên trước hiện tượng lạ ấy, thì chị lại thấy một cánh bướm màu nâu đậm, to bằng nửa bàn tay, từ đâu bay tới đậu lên vai chị. Dùng tay phất đuổi, cánh bướm vẫn không chịu bay đi, nó cứ lượn vòng quanh rồi đậu lên bia mộ... Vẫn biết có thể chỉ là sự trùng hợp tình cờ, mà chị vẫn rùng mình, ớn lạnh, cảm giác như có ai đó đang nhìn mình, ở ngay bên cạnh mình... Chưa hết, ngày hôm sau, khi đã về tới Hải Phòng, chị Thái lại kinh ngạc nhận ra con bướm nâu ở nghĩa trang Nam Đàn hôm trước đang có mặt trong nhà mình. Lạ hơn nữa là con bướm đang đậu trên tấm Huân chương của liệt sĩ Hoàng Kim Giao - tấm Huân chương lần đầu được treo lên sau 36 năm nằm trong ngăn tủ! Mọi người trong nhà rất mừng, nhưng 4 ngày sau, con bướm ấy đã nằm chết trên bàn thờ, dưới bức ảnh ông cụ thân sinh của người liệt sĩ. Chị Thái đã không kìm nổi những giọt nước mắt khi nhẹ nhàng nâng xác con bướm đã khô lên... Chị quyết định ép nó vào cuốn sổ tay và gửi cho chúng tôi bản chụp cánh bướm ấy Chi tiết này đã được tôi viết trong bài "Những chuyện thiêng liêng về những người đã hy sinh" in trên báo Văn nghệ Công an số tháng 7-2005.
Những ngày cuối tháng 7-2005, chúng tôi tìm về nghĩa trang Nam Đàn, người quản trang già đã quá quen với cảnh thân nhân gia đình liệt sĩ tới thắp hương, nhưng khi tôi vừa hỏi thăm mộ của Hoàng Kim Giao, ông sốt sắng nói ngay:
- Anh hùng phá bom từ trường hả? Ngôi mộ số 326 kia kìa! Anh ấy là người nổi tiếng ở nghĩa trang này mà!
Thì ra, dù chưa được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý đó, nhưng từ lâu, trong lòng đồng đội và nhân dân Nam Đàn, Hoàng Kim Giao đã là một anh hùng!
Sống để yêu thương và dâng hiến
Trong lời giới thiệu cho tập sách "Những lá thư thời chiến Việt Nam" (tập I) tôi đã viết: Thực ra, viết thư hay ghi nhật ký đều không phải là làm văn, mà trước hết đó chính là cuộc đời. Không có một người nào khi đặt bút viết những dòng chữ ấy lại nghĩ rằng, sau mấy chục năm nữa chúng sẽ được in thành sách và họ trở thành những tác giả... Bởi thế, tất cả đều chân thực và sinh động đến kỳ lạ. Và liệt sĩ Hoàng Kim Giao cũng vậy. Những trang thư của anh gửi cho người yêu, người vợ trẻ, cho em gái đi học đại học nước ngoài, hay cho cha mẹ... đều là những chuyện tình cảm rất riêng tư, vô cùng sinh động và chân thực.
Đọc lại những trang thư Hoàng Kim Giao đã viết cho những người thân yêu nhất của mình từ hơn 40 năm trước, chúng ta sẽ cảm nhận được điều đó. Chúng tôi xin được trích dẫn một vài đoạn trong số đó:
"Em yêu quý của anh! Anh mong gặp em ghê lắm. Anh muốn chúng ta dưới ánh trăng đẹp sẽ cùng nhau im lặng. Đi trong vườn hoa vắng, hoặc bơi thuyền dưới ánh trăng. Anh muốn lúc đó được nghe những lời yêu thương tha thiết của em. Anh muốn ghì chặt cô bạn xinh xắn của anh vào lòng và nói rằng suốt đời yêu em. Anh muốn mãi mãi được âu yếm, hôn mãi đôi môi xinh đẹp của em, em có cho phép anh không"
(Thư viết ngày 25/9/1964)
"...Nhìn thấy bất cứ cái gì anh cũng thấy hình bóng em lồng vào. Càng nghĩ càng yêu em tha thiết. Càng nghĩ anh càng thấy gắn bó hơn với em. Anh muốn gọi mãi tên em. Cái tên thân yêu đẹp hơn tất cả mọi cái trên đời, nó dịu dàng trong trẻo và làm ấm lòng anh. Anh luôn mơ ước có em bên cạnh, ôm ấp, trìu mến, yêu thương em....
...Anh mơ ước chúng ta được sống với nhau được yêu thương em mãi mãi, được ngồi ngắm em lúc em làm việc, nghỉ ngơi, vỗ về lúc em ngủ, nghĩ chuyện tương lai, được nghe em hát, nghe em kể chuyện nội trợ, thêu thùa vá may..."
(Thư viết ngày 9/1/1965)
"...Em đã mang lại hạnh phúc cho anh thì anh mong rằng hãy cho anh nốt hạnh phúc cuối cùng, đó là những vực thẳm mà em đã mơ hồ trông thấy, những nỗi buồn em chỉ khóc với trái tim em...
...Trong hàng vạn tấm lòng yêu thương, có lòng em ôm ấp hình bóng anh suốt tháng suốt năm. Em hãy tin với tất cả lòng tin để từng bước đi cạnh vực thẳm của cuộc đời, anh phải cẩn thận vì có em. Để trước quân thù anh dũng cảm được như những người dũng cảm nhất, anh hùng nhất vì biết rằng em và trong lòng vạn người vẫn coi anh như thế..."
(Thư viết ngày 27/3/1965)
"Chúng ta yêu nhau và tình yêu của chúng ta không phải vụng trộm, không phải né tránh những mũi tên xấu xa, cay độc của dư luận thông thường. Chúng ta được tự do hành động và chúng ta còn được tự do vì chúng ta biết sống thế nào đáng sống, biết yêu thế nào cho tình yêu vĩnh viễn trong như pha lê và ngào ngạt hoa lan buổi sớm"
(Thư viết ngày 15/05/1965)
"Anh chỉ có em để yêu thương thôi, cho nên anh mong em cho phép anh sống với em bằng tất cả tình thương, nỗi nhớ và cả trái tim dào dạt yêu thương của anh. Đối với anh, đầm ấm dịu ngọt nhất là được em ấp ủ yêu thương, được ngả vào cánh tay mát rượi của em để cho trí óc anh được thoải mái, nghỉ ngơi. Thực ra anh chỉ hoàn toàn thoải mái khi ở bên em, ôm em trong lòng và nghe tiếng đập của trái tim em. Em đừng hỏi anh sao không đi tìm hạnh phúc xa hơn như mọi thanh niên khác? Đối với anh em là tất cả, em đẹp hơn tất cả, dịu dàng thuỳ mị hơn tất cả và cũng tình cảm hơn tất cả mọi phụ nữ khác trên đời."
(Thư viết ngày 13/8/1966)
"Đừng buồn và đừng khóc em nhé. Lúc nào anh cũng ở bên em, anh mong rằng mỗi bước anh đi không bao giờ anh nghe thấy tiếng em khóc. Những giọt nước mắt yêu thương dành để cho lúc gặp nhau. Lúc đó, em sẽ muốn khóc bao nhiêu cũng được, vì bấy giờ em đã có anh rồi. Những giọt nước mắt đó không còn cô đơn nữa, nghe anh em nhé!"
(Thư viết ngày 14/9/1967)
Và trong tập sách này còn nhiều, rất nhiều những câu, những đoạn văn hay, thấm đẫm tình yêu và nước mắt như thế.
Hoàng Kim Giao không chỉ là một trí thức trẻ - một chiến sĩ trên mặt trận kỹ thuật mà trước hết anh là một Con Người theo đúng nghĩa viết hoa đẹp nhất của hai từ này. Ngoài những trang viết phơi phới lạc quan chiến thắng, đây đó ta còn bắt gặp cả những "nỗi buồn chiến tranh", những trang viết thấm đẫm nước mắt. Anh rất hiểu là mình có thể đón nhận những điều phũ phàng nhất do chiến tranh mang lại. Thậm chí, đã không ít lần anh nghĩ tới cái chết: "Cậu mợ và các em có biết con sẽ thế nào không nếu quả bom nổ". Nhưng đó là những tình cảm rất thật của con người. Trong mỗi người lính đều có những niềm vui, nỗi buồn và tình yêu không bao giờ vơi cạn. Điều quan trọng là họ vẫn tiếp tục chiến đấu cho tới ngày toàn thắng. Không ai có th&